Ý NGHĨA THỜI KHẮC ĐỨC PHẬT THÀNH ĐẠO

0
16

Ngược dòng thời gian hơn 25 thế kỷ, kể từ thời điểm trọng đại đánh dấu một chiến công lẫy lừng trong lịch sử nhân loại, một con người bình thường bằng đấu tranh nội tại đã tự mình vượt thoát khỏi mọi sự trói buộc của khổ đau sanh tử luân hồi. Một đại vĩ nhân xuất hiện.

Những lời tuyên bố đầu tiên của Ngài mãi mãi về sau vẫn là một khúc ca khải hoàn, chấm dứt trường chinh chống bọn giặc Ma vương phiền não, đưa một con người từ phàm phu lên vị trí một Bậc Giác ngộ, Bậc Đạo Sư của trời người. Từ đó nhân gian tôn xưng Ngài là Đức Phật — Bậc Giác ngộ tối thượng.

Và như thế, hằng năm đến ngày mùng tám tháng chạp, mọi người con Phật trên khắp năm châu đều nô nức đón chào một sự kiện lịch sử: Đức Phật Thích Ca Thành Đạo. Hòa với niềm vui chung của muôn loài, hôm nay chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về ý nghĩa Thành Đạo của Đức Bổn Sư.

I- Khái quát về Đức Phật:

Sống giam mình trong ngục thất vàng ngọc và buộc ràng bởi tình ái thê tử, Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (Siddhattha) không có được chút thảnh thơi, an lạc. Cuộc sống luôn bị rình rập bởi già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; chàng quyết định từ bỏ vinh hoa phú quý, làm một Sa-môn vô gia cư để tìm đường giải thoát cứu mình và nhân loại.

Thời gian trôi qua, gần một năm theo học với đạo sĩ Alara Kalama lãnh đạo phái Samkhya (Số luận) ở thành Vesali (Tỳ-xá-ly) và với Uddaka Ramaputta (Uất-đầu Lam-phất), lãnh đạo phái Yoga (Du già) tại kinh đô Rajagaha (Vương-xá), Sa-môn Gotama đã thấu triệt những gì mà hai đạo sĩ đạt được, nhưng Ngài không thỏa mãn; vì cho rằng chúng chưa là giác ngộ tối thượng.

Ngài từ bỏ hai đạo sĩ và đến cùng tu với năm người tu khổ hạnh là Kondanna (Kiều-Trần-Như), Bhaddya (Bạc-Đề), Vappa (Đề-Bà), Mahanama (Mahanam), Assaji (Ác-Bệ). Cuộc tìm kiếm chân lý trên đường tu khổ hạnh kéo dài 6 năm, kết quả chẳng có gì ngoài những cảm giác đau đớn, kiệt sức… Ngài một lần nữa chối bỏ phái tu khổ hạnh và “Tự mình thắp đuốc lên  mà đi”.

Sau 49 ngày đêm tư duy thiền định dưới cội cây Assatha (Tất-bát-la), vào một đêm sau khi sao Mai vừa xuất hiện, trí giác siêu việt bừng sáng nội tâm, Sa-môn Gotama chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác [1]. Ngài được trời người cung kính với 10 tôn hiệu: Như-Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn [2].

II. Ý nghĩa Thành Đạo:

1- Con người là tối thượng:

Đức Thế Tôn là bậc Đại giác ngộ khai sáng đạo Phật. Ngài là một người như bao nhiêu người nhưng tự giác ngộ chân lý, rồi đem sự giác ngộ ấy dạy lại cho con người. Chúng ta đừng lầm lạc, khi dán sau lưng Ngài những nhãn hiệu mà chính Ngài không thừa nhận. Do đó, chúng ta không nên xem Ngài như là một vị giáo chủ của một tôn giáo thông qua sự tôn thờ Ngài bằng lòng sùng kính của một tín đồ, vì đây không phải là bản ý của Ngài.

Ngài là một nhà văn hóa bởi vì ta đã nhìn Ngài bằng cặp mắt của một nhà văn hóa. Ngài là một nhà triết học bởi vì ta đã tìm hiểu Ngài qua những kiến thức triết học của ta. Đúng ra, chúng ta chỉ có thể nói rằng Ngài là người đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt của một xã hội, đáp ứng một cách toàn vẹn, nhờ giác ngộ, nhờ đức độ vô biên, nhờ ý chí bất khuất của Ngài.

Đức Phật đã tuyên bố, Ngài không phải là thượng đế, thiên sứ hay thần linh ở một thế giới xa xăm nào xuất hiện giữa cuộc đời.

Ngài nói, tất cả những gì Ngài thực hiện được, đạt đến được và hoàn thành được, đều hoàn toàn do nỗ lực và trí tuệ con người. Con người và chỉ có con người mới có thể thành Phật. Cho nên cái ý tưởng cho rằng Ngài là một nhân vật thần linh vạn năng, có thể ban phúc trừ họa là một ý tưởng sai lạc.

Chúng ta kính yêu Đức Phật vì bản thân Ngài là một thực thể đúc kết bằng những yếu tố nhân bản và trí tuệ. Đức độ và giáo lý của Ngài là những châu ngọc đúc kết bằng những chất liệu con người. Chúng ta kính yêu Đức Phật vì chúng ta thấy ở Ngài hình bóng của chính ta.

Cũng bởi vì vậy, cho nên trong suốt hơn 2500 lịch sử, đạo Phật là một nguồn sống tràn đầy tính chất nhân bản. Đức Phật là người khơi mở nguồn sống ấy, khơi mở chứ không phải là hóa hiện là tạo dựng. Chúng ta có thể gọi Ngài là một con người tuyệt luân. Ngài quá toàn thiện trong nhân tính của Ngài đến nỗi về sau trong tôn giáo của đại chúng, Ngài được xem là một siêu nhân.

Đức Phật dạy, nếu ai hiểu một cách chân chính thì hãy hiểu rằng, Ngài là một vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc nhân loại, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người (Trung Bộ I, Kinh số 4, tr 53).

Cho nên đạo Phật cho rằng vị trí con người là tối thượng. Con người là chủ nhân ông của chính mình, và không có một thực thể hay quyền năng nào trên cao để định đoạt số phận của nó. “Người là nơi nương tựa chính mình, còn ai khác nữa có thể làm nơi nương tựa?”.

 2- Con đường Trung đạo từ bỏ hai cực đoan:

Bằng kinh nghiệm tự thân, Đức Thế Tôn đã vạch rõ tư tưởng sai lầm của hai phái. Một là đắm nhiễm dục lạc; hai là khổ hạnh ép xác, nói cách khác là phái chủ trương lạc quan và phái chủ trương bi quan. Phái lạc quan sẽ bị vật chất hóa, thiên nhiên hóa, khoái lạc chủ nghĩa. Phái chủ trương bi quan tự chán ghét đời sống tạm bợ, thân thể đầy nhơ nhớp, nên dùng phương tiện ép xác, nhịn đói, khổ thân để mau bỏ xác thân này và cầu thân hạnh phúc tốt đẹp đời sau.

Theo Đức Thế Tôn, hai chủ trương này không có lợi ích gì và đó chỉ là tâm niệm bất chánh, kết quả chỉ là khổ thôi. Từ bỏ hai cực đoan này. Đức Thế Tôn thực hành Bát Chánh Đạo. Và Ngài đã tìm cực lạc thật sự trên con đường này. Đây là con đường Trung đạo đưa đến sự giác ngộ tối thượng.

Như vậy, Ngài nói con đường tu tập Trung đạo mà Ngài tìm thấy, đó là kết quả giác ngộ qua quá trình thực hành Giới, Định, Tuệ. Trong Kinh Pháp Cú, phẩm Đạo, tr 152 có ghi:

“Tám chánh, đường thù thắng,

Bốn câu, lý thù thắng.

Ly tham, pháp thù thắng.

Giữa các loài hai chân,

Pháp nhãn, người thù thắng.” 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here